Thứ sáu, ngày 10/7/2026 Hotline: 0981 815 815
New Page 1
Liên kết Website
Thống kê truy cập
Tổng truy cập: 3644112
Đang Online: 202
Trang chủ > Tin tức - sự kiện

Bài sát hạch mới của nông sản xuất khẩu

09/07/2026 02:10 PM
Muốn bước vào chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp giờ đây không chỉ bán sản phẩm mà còn phải chứng minh toàn bộ "lý lịch" của sản phẩm: được làm ra ở đâu, bởi ai, theo quy trình nào và có đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững hay không?

ESG bắt đầu từ báo cáo hay từ tư duy quản trị?

Từ cuối năm 2026, khi Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) chính thức được áp dụng nghiêm ngặt đối với nhiều mặt hàng chủ lực như cà phê, cao su và nông sản, một container nông sản muốn vượt qua cửa khẩu sẽ không còn chỉ cần đủ trọng lượng, đạt chất lượng hay đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật mà đi cùng nó sẽ là cả một "núi" dữ liệu số hóa chứng minh hành trình của sản phẩm, từ mảnh đất gieo trồng đến tay người tiêu dùng.

Trong cuộc chơi mới ấy, dữ liệu đang trở thành loại "hàng hóa" có giá trị không kém chính sản phẩm.

Khi dữ liệu trở thành 'lý lịch tư pháp' của nông sản

Nhiều năm trước, doanh nghiệp xuất khẩu chủ yếu lo bài toán giá thành, logistics hay thuế quan. Nhưng hiện nay, theo ông Phan Minh Thông, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Phúc Sinh, những rào cản lớn nhất lại nằm ở khả năng chứng minh nguồn gốc và tính bền vững của sản phẩm.

"Thị trường không chỉ hỏi doanh nghiệp bán gì mà còn hỏi sản phẩm được tạo ra như thế nào, ở đâu, bởi ai và có đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững hay không", ông nói.

Điều đó khiến chuyển đổi xanh không còn là một chiến lược để tạo lợi thế cạnh tranh, mà trở thành điều kiện tối thiểu để doanh nghiệp được tiếp tục "ở lại" trong chuỗi cung ứng quốc tế.

Phúc Sinh là một trong những doanh nghiệp đi sớm trên con đường này. Theo ông Thông, cách đây 18 năm, khi khái niệm ESG vẫn còn khá xa lạ tại Việt Nam, doanh nghiệp đã bắt đầu đầu tư vào các chương trình phát triển bền vững. Những khoản đầu tư từng bị xem là "đi trước thời đại" giờ lại trở thành lợi thế quan trọng.

Chỉ trong giai đoạn 2024-2025, Phúc Sinh đã nhận được ba quỹ hỗ trợ từ châu Âu để triển khai các chương trình phát triển bền vững, trong đó có khoản tài trợ không hoàn lại trị giá tới 430.000 euro.

Tuy nhiên, theo ông Thông, giá trị lớn nhất không nằm ở nguồn vốn hỗ trợ mà ở quãng thời gian chuẩn bị trước khi các tiêu chuẩn mới chính thức có hiệu lực.

Theo đó, từ cuối năm 2026, nhiều mặt hàng xuất khẩu sang châu Âu như cà phê, cao su cùng nhiều nông sản khác sẽ phải đáp ứng các quy định của EUDR. Khi ấy, doanh nghiệp không chỉ xuất khẩu hàng hóa mà còn phải chứng minh được toàn bộ "lý lịch" của sản phẩm, từ vùng nguyên liệu đến từng hộ nông dân tham gia chuỗi cung ứng.

"Muốn xuất khẩu sang châu Âu, doanh nghiệp phải lập được danh mục toàn bộ nông hộ tham gia chuỗi cung ứng. Đây là yêu cầu rất lớn và không thể hoàn thành nếu không chuẩn bị từ nhiều năm trước", ông Thông nhấn mạnh.

Theo lãnh đạo Phúc Sinh, những yêu cầu tương tự cũng đang nhanh chóng lan rộng sang Hàn Quốc, Nhật Bản và cả Trung Quốc. Ngay tại thị trường Mỹ, khoảng một nửa khách hàng của Phúc Sinh hiện cũng đã yêu cầu doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn ESG.

"Nếu không thực hiện ESG thì rất khó duy trì thị trường xuất khẩu", ông Thông khẳng định.

Công nhân cơ chế dừa tươi tại Công ty Vina T&T Group. Ảnh: Quốc Hải

Nếu ngành cà phê hay hồ tiêu phải giải bài toán truy xuất nguồn gốc thì với trái cây tươi, áp lực ấy còn khắt khe hơn bởi mỗi giờ trôi qua đều quyết định chất lượng của sản phẩm. Theo ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty Vina T&T Group, xuất khẩu trái cây tươi là một cuộc chạy đua với thời gian, nơi chỉ một mắt xích chậm nhịp cũng có thể khiến cả lô hàng trả giá.

Ông ví chuỗi cung ứng trái cây như một dây chuyền khép kín mà mọi công đoạn phải vận hành gần như tuyệt đối chính xác.

"Từ lúc thu hoạch lúc 4 giờ sáng cho đến khi hàng được đưa lên tàu đều phải đúng thời gian. Chỉ cần một mắt xích chậm trễ là cả lô hàng có thể bị ảnh hưởng", ông nói.

Với trái cây tươi, vài giờ chậm trễ không đơn thuần là chậm giao hàng. Một chuyến tàu lùi lịch vì biến động địa chính trị, một cảng biển ùn tắc hay một khâu logistics gặp sự cố đều có thể rút ngắn thời gian bảo quản, làm giảm chất lượng và khiến cả container mất giá trị thương mại. Để một trái nhãn hay trái xoài vẫn đủ độ tươi khi lên kệ siêu thị ở Mỹ, châu Âu hay Nhật Bản, phía sau là sự phối hợp gần như không được phép sai số giữa nông dân, doanh nghiệp thu mua, đơn vị logistics, hãng tàu và hệ thống phân phối.

Nhưng theo ông Tùng, áp lực lớn nhất hiện nay lại không nằm ở tốc độ vận chuyển mà ở khả năng truy xuất nguồn gốc.

Đặc thù của nông nghiệp Việt Nam là vùng nguyên liệu được tạo nên từ hàng trăm hộ sản xuất nhỏ lẻ. Chỉ để gom đủ một container khoảng 18 tấn nhãn xuất khẩu, doanh nghiệp có thể phải thu mua từ khoảng 200 hộ nông dân khác nhau. Điều đó đồng nghĩa mỗi lô hàng phải đi kèm một "hồ sơ dữ liệu" khổng lồ, ghi nhận đầy đủ thông tin của từng hộ sản xuất, từng khu vườn, từng lô trái cây và toàn bộ quá trình canh tác.

"Bây giờ mỗi trái cây đều phải có tem truy xuất nguồn gốc. Đây là bài toán rất lớn đối với doanh nghiệp và toàn ngành nông nghiệp", ông Tùng nói.

Kinh tế tuần hoàn: Cuộc chơi phải được thiết kế từ vạch xuất phát

Dưới góc nhìn chuyên gia, PGS.TS Lê Thị Kim Oanh, Trưởng khoa Môi trường, Trường Đại học Văn Lang, cho rằng chuyển dịch xanh không đơn thuần là một chính sách môi trường mà phản ánh sự thay đổi căn bản của các quy tắc thương mại quốc tế.

Theo bà, kinh tế tuần hoàn không thể là giải pháp "chữa cháy" ở cuối quy trình sản xuất, càng không chỉ dừng lại ở hoạt động tái chế.

"Kinh tế tuần hoàn phải được thiết kế ngay từ đầu, từ khâu lựa chọn nguyên vật liệu, thiết kế sản phẩm, kéo dài vòng đời sử dụng, tái sử dụng, tái sản xuất cho đến tái chế. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra nhiều giá trị hơn trên mỗi đơn vị tài nguyên", bà nhấn mạnh.

Cùng với đó, theo bà Oanh, việc Việt Nam từng bước hoàn thiện khung pháp lý về 'Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR)' đang thúc đẩy doanh nghiệp chuyển từ mô hình sản xuất tuyến tính sang mô hình kinh tế tuần hoàn.

"Đây không chỉ còn là yêu cầu tuân thủ pháp luật, mà đang trở thành điều kiện để doanh nghiệp duy trì năng lực cạnh tranh và tiếp tục tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu", bà Oanh khẳng định.

Dù nhận thức đã thay đổi, khoảng cách đến hành động của phần lớn doanh nghiệp Việt vẫn còn rất lớn do nhiều rào cản.

Theo ông Phan Minh Thông, trở ngại lớn nhất hiện nay với nhiều doanh nghiệp là chi phí đầu tư và sự thiếu hụt đội ngũ tư vấn chuyên sâu để hỗ trợ doanh nghiệp triển khai các tiêu chuẩn quốc tế. Chính vì vậy, theo ông, các hiệp hội ngành hàng cần đóng vai trò cầu nối, giúp doanh nghiệp tiếp cận thông tin, chuyên gia và nguồn lực để giảm chi phí chuyển đổi.

"Phát triển bền vững là xu hướng không thể đảo ngược. Mỗi ngành sẽ có cách triển khai khác nhau, nhưng tất cả đều phải đi theo con đường này nếu muốn tồn tại và cạnh tranh trong 5-10 năm tới", ông Thông nhấn mạnh.

Công nhân sơ chế bưởi da xanh. Ảnh: Quốc Hải

Ở góc nhín khác, ông Nguyễn Đình Tùng, cho rằng, nếu mỗi doanh nghiệp phải tự thu thập và xác minh thông tin của hàng trăm nông hộ cho từng lô hàng thì chi phí sẽ rất lớn và khó triển khai trên quy mô rộng.

Vì vậy, ông đề xuất xây dựng một hệ thống dữ liệu thống nhất ở cấp quốc gia, trong đó mỗi hộ sản xuất được cấp một mã định danh, tương tự mã số quyền sử dụng đất. Khi đó, doanh nghiệp chỉ cần tra cứu mã định danh là có thể truy xuất toàn bộ thông tin vùng nguyên liệu, thay vì phải bắt đầu lại từ đầu với từng lô hàng.

"Muốn cạnh tranh trên thị trường quốc tế, chúng ta không chỉ cần những vùng nguyên liệu đạt chuẩn mà còn phải có một hệ thống dữ liệu đủ mạnh để chứng minh nguồn gốc của từng sản phẩm", ông nhấn mạnh.

Trên thực tế, để duy trì năng lực cạnh tranh và tiếp tục tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, nhiều doanh nghiệp dẫn dắt tại các trung tâm kinh tế lớn như TP.HCM đang chọn một chiến lược khôn ngoan: tích hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh làm một. Chúng không còn là hai chiến lược riêng rẽ mà là hai bánh răng của cùng một cỗ máy tăng trưởng.

Chẳng hạn, tại Công ty CP Thực phẩm Cholimex (KCN Vĩnh Lộc), giai đoạn 2020-2025 đánh dấu quá trình số hóa toàn diện hoạt động quản trị. Doanh nghiệp đưa vào vận hành hệ thống quản lý phân phối (DMS), ứng dụng robot tự động hóa quy trình (RPA), trí tuệ nhân tạo (AI), qua đó tối ưu quản lý sản xuất, kho vận và chuỗi phân phối.

Song hành với chuyển đổi số là những khoản đầu tư mạnh cho chuyển đổi xanh. Hệ thống điện mặt trời áp mái gần 2 MWp được đưa vào vận hành; lò hơi chuyển sang sử dụng nhiên liệu sinh khối thay cho nhiên liệu hóa thạch; hơn 500 camera cùng hệ thống cảm biến được lắp đặt để giám sát tiêu thụ năng lượng và xử lý chất thải theo thời gian thực.

Nhờ theo đuổi chiến lược quản trị minh bạch và phát triển bền vững, Cholimex liên tục duy trì danh hiệu Doanh nghiệp Xanh trong bốn năm liên tiếp, đồng thời mở rộng xuất khẩu sang thị trường châu Âu.

Tương tự, Công ty CP Nhựa Bình Minh đầu tư hệ thống điện mặt trời áp mái công suất 3 MWp, chuyển đổi xe nâng chạy điện, ứng dụng IoT, robot và AI trong quản trị sản xuất, đồng thời triển khai kiểm kê phát thải carbon và các mô hình kinh tế tuần hoàn. Những khoản đầu tư này, nhìn ngắn hạn là chi phí, nhưng nhìn dài hạn không chỉ giúp tiết giảm chi phí năng lượng hay nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn tạo nên "tấm hộ chiếu xanh" để doanh nghiệp đáp ứng ngày càng tốt hơn các tiêu chuẩn quốc tế.

Theo theleader.vn

Nguồn: https://theleader.vn/bai-sat-hach-moi-cua-nong-san-xuat-khau-d46726.html



Các tin liên quan:
  Hàng loạt ưu đãi 'khủng' cho dự án trong khu nông nghiệp công nghệ cao
  Mỗi xã, phường có ít nhất một mô hình 'Giám sát cộng đồng' về an toàn thực phẩm
  Bài sát hạch mới của nông sản xuất khẩu
  13/15 địa phương hoàn thành việc lấy mẫu hài cốt liệt sĩ phục vụ giám định ADN
  Bộ Y tế sẽ nghiên cứu nguyên nhân khiến ca mắc ung thư gia tăng, siết chặt quản lý an toàn thực phẩm
  Quảng Ninh: Thông qua 21 nghị quyết trọng điểm trợ lực cho tăng trưởng kinh tế đạt 2 con số
  Từ vùng nguyên liệu đến bàn ăn: Cách Vũ Công xây dựng chuỗi cung ứng nông sản sấy quy mô lớn
  Khối các Trung tâm thuộc Sở Y tế Quảng Ninh sơ kết công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng đầu năm 2026
  Bảo đảm an toàn thực phẩm là bảo vệ sức khỏe Nhân dân, cộng đồng và nền kinh tế nông nghiệp
  Người dân thắt chặt chi tiêu, doanh nghiệp thực phẩm buộc phải đổi cách bán hàng
  Kiểm soát thương mại điện tử, bảo vệ an toàn thực phẩm
  Thanh Hóa: Triệt xóa đường dây sản xuất, tiêu thụ hơn 70.000 hũ yến giả
  Ngành Y tế Quảng Ninh chủ động kiểm tra, siết chặt công tác đảm bảo y tế phục vụ kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026
  Sửa Luật An toàn thực phẩm: Tăng hậu kiểm, siết thức ăn đường phố và bếp ăn tập thể
  Central Retail sẽ tiêu thụ gấp đôi lượng vải thiều Bắc Ninh
Tìm kiếm thông tin
Hình ảnh hoạt động
Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm – Sở Y tế Quảng Ninh
Địa chỉ: Tầng 18, Tòa nhà liên cơ quan số 3, P. Hồng Hà, TP Hạ Lọng, Quảng NInh
Điện thoại: 0203.3 611 043; Fax: 0203 3611044; Email: ccvsattp@quangninh.gov.vn Giấy phép của Sở Thông tin truyền thông số 05/GPTTĐT-STTTT ngày 31/01/2024
Trưởng ban biên tập: Nguyễn Phú Nhuận - Chi cục trưởng. Email:nguyenphunhuan@quangninh.gov.vn
Ghi rõ nguồn Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Quảng Ninh hoặc www.antoanthucphamquangninh.vn khi phát hành lại thông tin